• 0966751139
  • admin@hoanggialinh.com
  • Hoàng Gia Linh

TRÍ TUỆ XỬ THẾ CỦA THIỀN

  • 08:31, 14/02/2017
  • Hoanggialinh.com gửi tới Quý khách hàng món quà tinh thần đầy ý nghĩa bằng việc sẽ cố gắng post lên web hoanggialinh.com những cuốn sách hay về Phật Pháp, về cách ứng xử đẹp trong cuộc sống với mong muốn rằng mỗi chúng ta đều có thể "tự soi gương" để biết rõ bản thân mình từ đó góp phần làm cho xã hội của chúng ta có nhiều điều tốt đẹp hơn.

     

    TRÍ TUỆ XỬ THẾ CỦA THIỀN

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Phật nói rằng: Có đại trí tuệ, được đại tự tại. Thiền chính là đại trí tuệ xử thế ở đời.

     

    Mọi người chẳng thấy, thế giới phong trần, ngã rẽ dọc ngang. Năm tháng như sông dài, luôn tồn tại những gập ghềnh trắc trở. Quay về với bản chất chân thực để di dưỡng tính tình. Chỉ có thiền tâm thiền trí mới hiểu thấu thế sự.

     

    Nhân loại ở thế kỷ XXI, phải sống trong một xã hội đầy áp lực, và luôn phải gồng mình để hòa vào nhịp sống vội vã, dòng đời đua chen. Bởi vậy, mỗi người sống trong xã hội hiện đại ấy, sẽ luôn phải chịu nhiều gánh nặng ngày càng nặng nề, và cũng luôn phải đối diện với nguy cơ sinh tồn ngày càng hiện rõ trong cuộc sống của mình. Chúng ta vì để mưu sinh mà phải bôn ba mệt mỏi, nhưng chúng ta vì để theo đuổi những gì mà chúng ta chấp mê mà chúng ta đánh mất cây mãi xanh và suối nguồn không cạn của nội tâm chân bản. Do đó, tham ngộ và tu luyện thiền, để rồi chúng ta mới có được tình cảm dạt dào, giải bỏ nỗi khốn hoặc, trừ bỏ tâm ma, cầu cái chân ngã, viên dung thông đạt con đường sinh mệnh.

     

    Thế nào gọi là thiền? Thiền là một loại văn hóa, cổ xưa nhưng không lỗi thời, thiền ẩn chứa phong thái đặc sắc của văn hóa phương Đông. Thiền là một sự tu luyện, giúp tăng trí ích thọ, tinh thâm bác đại, và ai ai cũng đều có thể tham ngộ; thiền là một chiếc gương soi chiếu cái tự ngã, mà ở đó thiện ác xấu đẹp đều có thể soi được; thiền là một ngọn đuốc để giữ chính xua tà, nội tỉnh tịnh tâm, chỉ dẫn tâm lộ của con người, và hơn nữa, thiền là một trí tuệ nhân sinh của sự dung hòa tín ngưỡng và cuộc sống, thần thánh và bình thường. Trí tuệ thiền có thể khiến cho tâm hồn của chúng ta được giải thoát ra từ trong hỗn độn và mê lầm, có thể khiến cho cuộc sống của nhân loại đạt đến sự giác ngộ của ánh sang viên mãn. Tóm lược trong một câu có thể nói, Thiền chính là một cảnh giới tinh thần giúp cảm ngộ cái chân bản của sinh mệnh.

     

    Thiền không phải là cái gì thần bí, mà từ lâu nó đã hòa nhập vào cuộc sống của con người, nó gắn bó mật thiết với chúng ta. Ngộ thiền cũng không phải hoàn toàn là một điều phức tạp cao sâu, chỉ cần chúng ta đem cái tâm hoang vu hỗn độn mà quét sạch đi, đưa ánh sáng trí tuệ vào, không để cho vật dục lôi kéo, không để cho tâm ma dụ dỗ, không làm nô lệ cho thế tục, không đánh mất đi cái bản tính nhân thiện thì chúng ta có thể lãnh ngộ được cái bản chất vi diệu và tinh yếu của thiền. Khi chúng ta đạt đến cảnh giới quang minh chính đại, đại triệt đại ngộ thì chúng ta đã có một cuộc sống an nhiên và tự tại.

     

    Tham thiền ngộ thiền, điều đó sở dĩ được thịnh hành trong xã hội hiện đại hoàn toàn không phải là một việc ngẫu nhiên. Bởi vì bản ý của việc tham thiền ngộ thiền là để cho con người siêu vượt sinh tử, tùy duyên mà sống. Tham thiền ngộ thiền là để chúng ta tiếp nạp cái tự ngã, khẳng định cái tự ngã. Mục đích của việc tham thiền là để cho nhiều người cùng đạt được cái siêu nhiên lập thế, tuệ tâm xử thế. Một người nắm vững bản thân mình, khẳng định bản thân mình, yêu thương nhiệt tình với nhân sinh, yêu quý sinh mệnh thì ắt sẽ kết thành tuệ duyên với thiền, ắt sẽ vì thiền mà triệt ngộ, mà tự tỉnh, mà thăng hoa.

     

    “Trí tuệ xử thế của Thiền” là cuốn sách được viết trên cơ sở những tinh yếu thiền học, giúp con người lãnh hội sâu sắc được Phật học, qua đó tiến hành thâm nhập khám phá việc thiền, người thiền, suy nghĩ của thiền, lời nói của thiền được lưu truyền hàng tram nghìn năm qua. Sách chọn lọc những câu chuyện, lời nói và hành động cùng với những danh ngôn triết lý và diệu luận của các bậc đại sư thiền học mang ý nghĩa khải mông và khai ngộ đối với cuộc sống nhân sinh hiện đại, thêm vào đó những lời khái quát, bình giá súc tích, giúp ích cho quý độc giả thông qua việc đọc hiểu mà đạt được đến cảnh giới nhân sinh chân thực bất hư và sự thể nghiệm sâu sắc của tâm hồn.

     

    lấy tâm thiền tu luyện tự ngã, là để cho sinh mệnh được hòa nhập nhiều hơn vào sức mạnh trí tuệ, hòa nhập vào cái tâm từ bi vô lượng. Lấy trí thiền để xử thế, làm ngừoi là để cho nhân sinh được tự như đạt quan, để cho sinh mệnh được tự tại siêu thoát. Đó là cống hiến của trí tuệ thiền đối với nhân loại và cũng là lời cầu nguyện của sách đối với quý độc giả.

     

    Những người biên soạn

    Thư Ưng – Thiên Đan

     

    Chương I

    ĐẠT QUAN LẬP THẾ

     

    Thiền là pháp môn có thể khiến cho mọi người hòa nhập được vào bên trong sinh mệnh, điều đó cũng chính là nói, Thiền là một loại trí tuệ và nghệ thuật của cuộc sống. Thông qua ngộ thiền, người bình thường có thể mở rộng “Tuệ nhãn” của mình, nhìn thấu ý nghĩa cuộc sống, lãnh ngộ được chân lý của cuộc sống, và cái đích cuối cùng là có thể sống một cuộc sống viên mãn. Mỗi một cá nhân đều cần có trí tuệ của thiền, đặc biệt là trong xã hội hiện đại hôm nay với cuộc sống khẩn trương, bận rộn và ham muốn vật chất lan tràn như vậy thì càng cần phải gột sách cái “tâm không thiền”.

     

    “Thiền” sẽ dạy cho bạn sự lạc quan, khoan thứ, bao dung và nhường nhịn, thiền cũng có thể dạy cho bạn học cách lấy cái tâm bình thường tùy duyên mà tự thích nghi với cuộc sống. Không còn nghi ngờ gì nữa, thiền sẽ tịnh hóa dục vọng và sự chấp trước của bạn, khôi phục niềm lạc quan của tâm hồn, thể hiện rõ trí tuệ của việc làm người. Thiền được xem là một loại nghệ thuật của cuộc sống, nhưng hoàn toàn không phải là thần bí, hoàn toàn không sâu xa, chỉ cần lưu tâm thì thiền đã nội hóa bên trong cuộc sống của rất nhiều người, thiền đã bao quát từng ly từng tý trong đại thiên thế giới (thế giới quan Phật giáo), thiền đã ở trong cuộc sống để hướng chúng ta đến tương lai tươi sáng và vui vẻ.

    Thiền khiến cho bạn lạc quan ! Thiền dạy bạn lập thế ! Thiền chính là cuộc sống !

     

    I. Tâm bình thường

    Điềm tĩnh tự nhiên là chân lý ở nhân gian

     

    Con người chỉ cần sống được tự tại, hòa hợp với tự nhiên, lao động cũng được, nghỉ ngơi cũng được, tất cả đều có thể nhập Phật nhập Thiền. Nếu việc gì cũng đều buông xả không làm, lao động chẳng ra lao động, nghỉ ngơi chẳng ra nghỉ ngơi thì ắt sẽ rơi vào cảnh khốn ở nhân gian.

    Cái tâm bình thường, điềm tĩnh là đại trí tuệ nhân sinh đầu tiên của thiền.

     

    Việc thiền ngộ thiền

     

    Đạo Nhất là một vị cao tăng đại trí đại tuệ trong lịch sử Trung Quốc. Đạo Nhất thờ phụng Thiền sư Hoài Nhượng 10 năm, cuối cùng được sư phụ tâm truyền. Đạo Nhất có họ tục là Mã, là hậu thế của Lục tổ Huệ Năng, người ta cho rằng môn diệp của Đạo Nhất là phồn vinh nhất nên mọi người đã tôn Đạo Nhất là “Mã Tổ” gọi thiền pháp của Đạo Nhất là “Hồng châu thiền”.

    Mã Tổ cho rằng: “Đạo chẳng cần tu, tâm bình thường chính là đạo. Thế nào gọi là tâm bình thường? Đó chính là tâm cảnh không tạo tác, không thị phi, không thủ xả, không đoạn thường, không phàm thánh. Mặc áo ăn cơm, đi đứng ngồi nằm, nói năng cử chỉ, khởi tâm động niệm, tất cả ứng cơ tiếp vật đều là đạo. Điều đó giống như muôn sông nghìn suối, tất cả đều có tình trạng khác nhau, nhưng đều cùng chảy về biển cả, đều cùng được gọi là nước biển.” Trong việc khai thị cho đại chúng, Mã Tổ đã cáo giới với người đời rằng: “Trong cuộc sống thường ngày chỉ cần hai mặt thiện ác đều không bị đụng chạm thì có thể gọi đó là người tu đạo vậy.” Thuận theo tự nhiên, hòa hợp với mọi người là đạo, đó chính là đặc điểm “Hồng châu thiền” do Đạo Nhất sáng tạo nên. Tư tưởng “tâm bình thường là đạo” của Đạo Nhất, không chỉ có ảnh hưởng rất to lớn đối với việc tu thiền của đời sau mà nó còn có sự gợi mở sâu sắc đối với thái độ nhân sinh của người đời.

     

    Vào mùa hạ một năm, thiền sư Ngưỡng Sơn đã tạm biệt thầy của mình là thiền sư Ngụy Sơn để xuống núi, khi mùa hạ qua đi, Ngưỡng Sơn lại lên núi vấn an thầy.

    Thiền sơn Ngụy Sơn quan tâm hỏi han đến để tử của mình: “Qua mùa hạ này con thấy thế nào? Con đã làm được những gì?”

    Ngưỡng Sơn cung kính mà vui vẻ trả lời: “Thưa thầy, ở dưới núi con đã tự mình khai khẩn được một khối đất, gieo trồng cây giống, bây giờ con đang thu hoạch!”.

    Ngụy Sơn gật đầu khen ngợi: “Rất tốt ! Vậy là con đã không uổng phí mùa hạ này rồi!”.

    Ngưỡng Sơn cũng hỏi rằng: “Thưa thầy, mùa hạ này thầy đã làm được những gì ạ?”

    Ngụy Sơn cười mà đáp: “Mùa hạ này ta chẳng làm gì, ta chỉ theo thời gian để ăn, dự theo thời gian để ngủ.”

    Ngưỡng Sơn vui vẻ nói: “Thưa thầy, vậy là thầy cũng không để uổng phí mùa hạ này rồi đấy!”

    Ngụy Sơn cười ha ha.

    Có một số người xuất gia nghe nói tới đại danh của thiền sư Triệu Châu thì không ngại lặn lội ngàn dặm xa xôi tới để xin được thỉnh giáo.

    Người xuất gia thứ nhất nói rằng: “Đệ tử mới nhập thiền môn, xin thiền sư chỉ giáo cho một vài điều!”

    Thiền sư Triệu Châu không trả lời, mà hỏi ngược lại: “Từ xa xôi đến đây, chùa viện chúng ta đã cho con ăn cháo chưa?”

    Người xuất gia trả lời: “Đa tạ thiền sư đã quan tâm, con đã ăn rồi”

    Thiền sư Triệu Châu bèn nói: “Rất tốt, vậy thì hãy đi rửa bát đi”

    Người xuất gia thứ hai tiến lên phía trước mà nói: “Nghe đại danh thiền sư đã lâu, xin được thiền sư chỉ giáo”

    Thiền sư Triệu Châu cũng hỏi: “Con đến đây bao lâu rồi?”

    Người xuất gia đáp rằng: “Hôm nay con mới đến”

    Thiền sư Triệu Châu bèn hỏi: “Con đã uống trà trong chùa của chúng ta chưa?”

    Người xuất gia nói: “Đa tạ thiền sư, đệ tử đã uống rồi”

    Thiền sư Triệu Châu liền nói: “Rất tốt, con hãy tới phòng khách trình diện đi!”

    Thấy thiền sư nhanh chóng để hai người xuất gia đi ra như vậy, một đệ tử theo thiền sư đã nhiều năm cảm thấy rất thất vọng, đệ tử ấy bèn lấy hết dũng khí nói với thiền sư: “Con ở đây đã hơn 10 năm rồi nhưng cũng không được thầy chỉ giáo cho; thấy sự việc hôm nay, con nghĩ có lẽ mãi mãi sẽ không được thầy dạy, con muốn được tới nơi khác để cầu học.”

    Thiền sư Triệu Châu kinh ngạc mà nói: “Tại sao con lại cảm thấy ta không chỉ giáo cho con? Hàng ngày con dâng trà cho ta, ta uống; hàng ngày con dọn cơm cho ta, ta ăn; con chắp tay lễ bái, ta cúi mình đón nhận. Có lúc nào mà ta không chỉ giáo cho con không?”

    Đệ tử đó đột nhiên đại ngộ: “Hóa ra hàng ngày thầy đều chỉ giáo cho con!”

    Thiền sư Triệu Châu khi lần đầu tiên tham kiến thiền sư Nam Tuyền, ngài hỏi: “Thế nào là đạo?”

    Thiền sư Nam Tuyền đáp: “Tâm bình thường là đạo”

     

    TRIẾT LÝ GIÁC NGỘ

    Thiền Tông cho rằng, “Phật Pháp ở thế gian, không tách rời khỏi thế gian”, tách rời khỏi cuộc sống thường ngày, mà cứ tu một cách cứng nhắc, ngồi lỳ ra đó thì chỉ là thiền của những kẻ phàm phu, thậm chí là thiền ngoại đạo, chứ ắt chẳng phải là thiền Như Lai chứ đừng nói đến thiền tổ sư nữa.

    Cho nên ăn cháo, rửa bát, uống trà, ngủ nghỉ, những điều bình thường đó trong cuộc sống thường ngày không có gì có thể được xem là bình thường hơn, lại chính là con đường ngộ đạo. Sự tu hành của người tham thiền không phải là những cái gì khác được đặc biệt chú trọng ngoài những tiểu tiết thường ngày ấy. Bởi thế, dù là một sa môn hay bất kỳ một người nào đang sống lang thang nơi đầu đường xó chợ, thì không phải là không có cơ hội tốt để tu hành.

    Do vậy, chúng ta có thể thấy rằng, trong cuộc sống thường ngày, khắp nơi đều thể hiện rõ đại đạo; cuộc sống thường ngày bình thường nhất vẫn luôn ẩn chứa ý vị thuần chân.

    Thực ra, thiền gẫn gũi nhất với đại chúng, thiền là nhân tính hóa nhất. Đặc biệt là sự quay về với tự nhiên, đạt được cái tâm bình thường, điềm tĩnh thì đó chính là tâm thiền.

    Tâm thiền đã chỉ ra cho chúng ta một triết lý nhân sinh như thế này: Chỉ cần sống được tự tại, lao động cũng được, nghỉ ngơi cũng được, tất cả đều có thể nhập Phật, nhập Thiền. Nếu rối ruột rối gan, lao động chẳng ra lao động, nghỉ ngơi chẳng ra nghỉ ngơi thì sẽ rơi vào cảnh khổ ở thế gian.

    Có một vị giàu có, sau khi ông ta đã nếm hết sơn hào hải vị thì suy nghĩ lại và nhớ đến mùi vị thanh đạm của rau xanh, đậu phụ trắng. Ông ta nghiền ngẫm và ngộ ra trong cái vị thanh đạm ấy, hóa ra “đạm” mới là chân vị vĩnh hằng ở nhân gian.

    Đạm là mùi vị trái ngược với nồng. Điều đó giống như việc mọi người thích và am hiểu về đá vũ hoa (đá vũ hoa – một loại đá tròn nhỏ sáng bóng, có vân và màu sắc sặc sõ, có nhiều ở Nam Kinh), loại đá này vốn dĩ nó chỉ là một loại đá rất bình thường, do trải qua nhiều năm mưa gió bị mài mòn, nên hình dạng bên ngoài của nó dần dần trở nên trơn láng và tròn, màu sắc cũng dần nhạt đi. Khi đem nó ngâm vào trong nước thì sẽ nở ra từng đốm trong như ngọc ban trắng long lanh, nó còn xuất hiện lấp lánh nhiều màu nhàn nhạt; nếu vớt nó ra khỏi mặt nước thì trong chốc lát nó sẽ mất đi vẻ sáng bóng óng ánh. Đem những viên đá ấy bỏ vào cái cốc đựng đầy nước trong thì đến đêm nó sẽ sáng như ngọc trông rất thích mắt.

    Nếu không cẩn thận để rớt vào đó mấy giọt nước đục thì trong chốc lát sẽ không nhìn thấy được viên đá đẹp nữa. Do vậy, cái khiến con người đốn ngộ thì phải từ đạm mới có thể là chân, còn nồng thường là thất chân; đá vũ hoa thì giống như cái bản tính chân ngã của con người, nước trong mới hiện đá, tâm tịnh mới kiến tính. Nước đục, thì sẽ không thấy được vật, tâm đục thì khó thấy được tính. Nước phải trong mới là nước tốt, tâm phải đạm bạc mới là tâm tốt. Giống như Gia Cát Khổng Minh từng nói: “Đạo đức cao, đạm bạc để làm sáng cái chí, yên tĩnh để đạt tới cái cao xa”, có như vậy thì chúng ta mới có thể đạt được chân vị của nhân sinh, đạt được ngưỡng cảnh thiên thu vạn kiếp. Đạm bạc, yên tĩnh, mãi mãi là tình cảm, và là cảm nhận sâu sắc của vĩ nhân, điều này sẽ vĩnh viễn là chân lý của cuộc sống.

    Trí tuệ của thiền đã chỉ ra cho chúng ta biết rõ “đắc ý nên dửng dưng”, muốn làm được điều đó chúng ta cần phải có cái tâm bình thường, chỉ sợ đắc ý mà vong hình, như thế sẽ đâm ra kiêu xa ngang ngược, mà rõ ràng là không ai có thể kiêu xa ngang ngược được cả đời. Nếu chúng ta có thể thường xuyên sử dụng “trí tuệ của nước” để làm loãng “cái tình đắc ý” thì càng có thể đạt được nhiều lạc thú trong cuộc sống và sự tôn kính của người khác.

    Ngôi sao điện ảnh nổi tiếng thế giới Jodie Foster (Alicia Christian Foster) là một người rất giàu có, nhưng trong suốt mười mấy năm trời ngày nào bà cũng đi làm bằng chiếc xe Ford cũ kỹ; khi dùng bữa thì mình bà ngồi trong chiếc xe hỏng để hưởng thụ “mỹ vị” của mình là bánh hamburger hoặc bánh bao, bà không tỏ ra một chút nào là đắc ý. Dẫu có thi nhân viết rằng: “Nhân sinh đắc ý tu tận hoan” (đời người đắc ý nên tận hưởng), nhưng bà lại biết tích phúc khi bản thân mình đắc ý, cuộc sống tuy thanh đạm một chút nhưng bà lại tìm được niềm vui trong đó. Cách thức ứng xử của bà như vậy mới thực là tình cảm “đắc ý vẫn đạm bạc”

    Đắc ý nên dửng dưng đạm bạc, và đắc ý thì nên thản nhiên. Đó cũng chính là sự yêu cầu cần phải có của cái tâm bình thường. Thản nhiên là sự bình thản mọi nơi mọi lúc. Nhân sinh giống như sóng nước, luôn luôn nhấp nhô lúc lên lúc xuống thật khó tránh, ngạn ngữ có câu: “Có lúc sao sáng, có lúc trăng tỏ”. Bạn có thể chú ý quan sát, trước và sau ngày mùng một âm lịch, chỉ cần trời quang mây tạnh thì ắt sẽ có sao sáng đầy trời; mà vào ngày rằm thì trăng sáng vằng vặc. Trăng và sao cứ xoay chuyển cho nhau. Đời sống của một người có lúc chìm có lúc nổi, có khi sáng có khi tối, âu cũng là hiện tượng rất tự nhiên.

    Con người, nếu nhất thời vấp ngã thì không có gì đáng sợ, chỉ cần bạn biết xét lại bản thân mình khi thất ý, chắc chắn bạn lấy lại động lực ban đầu như ngày xưa, cho nên một bậc triết gia có nói: “Thất bại là mẹ thành công” là điều rất có lý.

    Nhưng trong cuộc sống lại có rất nhiều người khi gặp phải sự thất bại thì “bình vỡ thì đập luôn’”, và họ sẽ tìm đến rượu, thuốc lá, ma túy hay thuốc độc để an ủi mình, nhưng họ không biết rằng những phương thức nguy hiểm ấy có thể sẽ hủy diệt bản thân họ, họ không biết rằng đó là thái độ sống của muông thú, trong tình trạng suốt ngày ngập ngụa trong men rượu và khói thuốc. Vấn đề có ý nghĩa sinh tồn đối với họ không có gì khác hơn ngoài việc hoặc là họ vẫn tiếp tục một cuộc sống như vậy hoặc là đối diện với thực tế thất bại đó, kiên cường đứng dậy và sống tốt hơn trong tương lai. Vì vậy, có thể nói rằng, khi một cá nhân thất ý thì việc vực dậy tâm lý là một điều vô cùng quan trọng. Bạn thử nghĩ, thiên tài âm nhạc Beethoven, khi còn bé ông phải nghỉ học, mẹ ông mắt thấm đẫm lệ đã mang ông về nhà để dạy dỗ.

    Tuổi thơ của ông rất cơ cực, ông sống đến cuối đời mà vẫn không lấy vợ, đến cuối đời ông lại bị điếc hoàn toàn, cả đời ông chỉ là sự kết hợp giữa gian nan và lặng lẽ. Thế nhưng, trong những tháng ngày cô tịch đó ông lại sáng tác nên những bản nhạc vĩ đại làm lay động lòng người: Thế giới mang đến cho ông sự đau khổ, nhưng ông lại sáng tạo niềm vui cho thế giới đã đối xử khắc nghiệt với ông. Beethoven từ bé đã phải nếm trải nỗi đau khổ thất ý, nhưng ông không bao giờ nản lòng, ngược lại ông càng dũng cảm phấn đấu và ông đã trở thành nhà soạn nhạc vĩ đại được cả thế giới tôn kính. So với cuộc đời đầy lận đận của Beethoven thì lẽ nào chúng ta chẳng phải là một người đang sống trong hạnh phúc hay sao? Chúng ta có quyền thất chí và bi quan hay không?

    Khi đắc ý thì vẫn bình thường mà xử sự với đời, đó là nỗi lòng của người chân quân tử; khi thất ý vẫn bình thản xử sự thì đó là hành vi của bậc đại trượng phu. Vậy cho nên, nhân sinh cho dù là khổ hay vui, cho dù là thành công hay thất bại thì đều nên giữ lấy cái tâm bình thường.

     (còn nữa) 

    Tin tức liên quan

    Không có tin tức thuộc chủ đề này

    TOP